Đang có làn sóng ransomware tấn công NAS Synology đời cũ. Hãy cập nhật DSM và không mở NAS thẳng ra Internet. Cần truy cập từ xa thì dùng VPN hoặc RocketZero.
Xem hướng dẫn →
Chọn model Xpenology theo CPU: DS918+, DS920+ hay SA6400
Xpenology là cách chạy DSM, hệ điều hành của NAS Synology, trên máy tự ráp hoặc mini PC thanh lý. Muốn chạy được thì cần một loader. RR là loader phổ biến nhất hiện nay, bản ổn định mới nhất là 26.9.0
Xem video tóm tắt: Chọn model Xpenology theo CPU: DS918+, DS920+ hay SA6400
Chọn model trong RR là chọn cái gì?
Xpenology là cách chạy DSM, hệ điều hành của NAS Synology, trên máy tự ráp hoặc mini PC thanh lý. Muốn chạy được thì cần một loader. RR là loader phổ biến nhất hiện nay, bản ổn định mới nhất là 26.9.0 (04/09/2026). Chưa rõ Xpenology là gì hay nên mua máy ở đâu thì đọc bài NAS Xpenology là gì, mua ở đâu trước rồi quay lại đây.
Khi build loader, RR hỏi máy của bạn sẽ "đóng vai" model Synology nào: DS918+, DS920+, DS3622xs+, SA6400… Trông thì giống chọn avatar trong game, nhưng mỗi model đi kèm một kernel và một bộ driver riêng. Chọn sai thì máy vẫn boot, DSM vẫn lên, nhìn đâu cũng thấy ổn. Cho tới tối thứ Bảy cả nhà mở phim 4K trên TV, và cái mini PC bắt đầu rú quạt như máy sấy tóc.
Model bạn chọn quyết định bốn chuyện:
Có transcode bằng iGPU hay không. Jellyfin, Plex, Emby dùng iGPU để chuyển mã video cho TV và điện thoại phát mượt. Không có iGPU thì CPU gánh hết. Từ DSM 7.2.2, Synology đã gỡ Video Station và đẩy việc giải mã HEVC/AVC sang thiết bị phát, nên giờ iGPU chủ yếu phục vụ các app media chạy trong Docker.
Có dùng được NVMe không, để làm cache, làm volume hoặc cài DSM lên đó.
DSM được dùng bao nhiêu luồng CPU. Mỗi model có một mức trần. CPU nhiều luồng hơn mức đó thì phần dư nằm chơi.
Lên được tới bản DSM nào. Theo release notes của Synology, DSM 7.4 là bản cuối cho DS918+.
Đổi model sau khi đã cài DSM là một lần migrate, nghĩa là phải backup trước. Nên đọc bài này trước khi mua linh kiện, đừng đợi tới lúc ổ đã đầy dữ liệu. Build lại loader và nâng DSM thì có bài cập nhật DSM riêng.
Ba tình huống thường gặp
ThinkCentre M720q/M920q thanh lý (i5-8500T, iGPU UHD 630, card mạng Intel I219), cắm một ổ 2.5" làm kho phim cho cả nhà. Chọn DS920+: có transcode iGPU, trần 8 luồng vẫn dư cho con chip 6 luồng.
Beelink ME mini (N150, 6 khe M.2, 2 cổng Intel i226-V, không có SATA) làm NAS toàn NVMe nhỏ cỡ hộp cơm. Chọn SA6400 kèm addon nvmesystem (chỉ chạy trên model DT). DSM cài thẳng lên NVMe, Jellyfin vẫn có iGPU để dùng.
Mini PC Ryzen, hoặc Xeon cũ kèm card HBA đang nằm sẵn trong kho. iGPU AMD không transcode được trong DSM. Chọn DS3622xs+ (24 luồng, hỗ trợ HBA, cấu hình đơn giản), hoặc SA6400 nếu cần NVMe.
Các thread cũ trên forum hay chốt một câu: "cứ chọn DS918+". Lời khuyên đó giờ chỉ còn đúng với Intel đời 6–9 và dòng Celeron J, mà ngay cả nhóm này thì năm 2026 DS920+ vẫn đáng chọn hơn, vì DS918+ dừng ở DSM 7.4. Intel đời 12 trở lên, kể cả N100/N150, mặc định là SA6400.
Ba khái niệm cần nắm trước khi đọc bảng
Kernel 4.4 và kernel 5.10
DS918+, DS920+, DS923+ và DS3622xs+ chạy kernel 4.4.302 từ DSM 7.2 tới 7.4. SA6400 và các model 2025 (DS925+, DS725+, DS425+) chạy kernel 5.10.55. Kernel 4.4 ra đời trước Intel đời 12 khá lâu, nên driver i915 trong đó không nhận được iGPU đời mới. Với nhóm kernel 5.10, RR gắn thêm bản i915 backport, nhờ vậy N100/N150 và Core 12–14 mới có /dev/dri cho Jellyfin dùng.
DT và non-DT
Đây là cách DSM đánh số khe ổ. Model DT (device tree) như DS920+, DS923+, SA6400 xác định ổ qua một file mô tả phần cứng. Model non-DT như DS918+, DS3622xs+ dùng tham số kernel kiểu SataPortMap, DiskIdxMap. Đa số trường hợp RR tự tính hết. Chỉ cần để ý khi thứ tự ổ bị lệch: model non-DT thì chỉnh trong Cmdline menu, model DT thì dùng Custom DTS.
Cờ G, N, H trong menu RR
Trong mục Choose a model, RR in sẵn chú thích "DT: Disk identification method is device tree" và "G: Support iGPU; N: Support NVMe; H: Support HBA". Các cờ này được tính từ chính phần cứng đang chạy RR:
G: RR đọc ID iGPU Intel bằng lspci. Nếu ID có trong file i915ids (iGPU Intel đời cũ), cờ G hiện ở DS918+, DS920+ và các model cùng nhóm apollolake/geminilake. Nếu là iGPU Intel nhưng ID không có trong file (đời mới), cờ G hiện ở SA6400 và nhóm kernel 5.10. iGPU AMD thì không model nào có G.
N: model DT luôn có N khi máy có NVMe. Model non-DT chỉ có N nếu nằm trong danh sách đặc cách của RR. DS918+ có tên trong danh sách này, DS3622xs+ thì không.
H: chỉ có ở model non-DT và model kernel 5.x. DS920+ và DS923+ (DT, kernel 4.4) không có H.
Nếu CPU thiếu flag mà model yêu cầu, RR ẩn hẳn model đó khỏi danh sách. Ví dụ: DS918+ cần CPU có lệnh MOVBE.
Bảng 1: mỗi model trong RR làm được gì
Model
Kernel · kiểu
Luồng tối đa
iGPU (G)
NVMe / HBA
DS918+
4.4 · non-DT
8
Intel đời cũ
Có / Có
DS920+
4.4 · DT
8
Intel đời cũ
Có / Không
DS923+
4.4 · DT
8 (chưa chắc)
Không bao giờ
Có / Không
DS3622xs+
4.4 · non-DT
24
Không bao giờ
Không / Có
SA6400
5.10 · DT
24
Intel đời mới
Có / Có
DS925+ / DS725+ / DS425+
5.10 · DT
16 / 8 / 8
Intel đời mới
Có / Có
Số luồng tối đa lấy từ tài liệu loader Arc và forum, vì RR không công bố con số này. Riêng DS923+ có hai nguồn vênh nhau: Arc ghi 8, một thread forum năm 2022 ghi 16. Cài xong, kiểm lại bằng addon cpuinfo. CPU nhiều luồng hơn mức trần thì DSM chỉ dùng tới mức trần, máy vẫn chạy bình thường.
DS918+ yêu cầu CPU có MOVBE và dừng ở DSM 7.4. NVMe trên DS918+ có được là nhờ danh sách đặc cách của RR.
DS923+ mô phỏng máy gốc chạy AMD R1600, nên không bao giờ có cờ G.
DS925+, DS725+, DS425+ là các model 2025. Về iGPU, chúng cùng nhóm với SA6400 nhưng còn ít người kiểm, chỉ nên coi là phương án thử.
Bảng 2: CPU nào chọn model nào
Bảng này để tra trước khi mua. Để ý cột cuối: không phải dòng nào cũng được cộng đồng kiểm chứng như nhau.
J3455/N3350: đây chính là chip trong DS918+ thật, nên driver khớp nhất. Đổi lại, DS918+ dừng ở DSM 7.4. Muốn dùng máy lâu dài thì thử DS920+.
J4125/J5040: DS920+ thật dùng J4125, chọn DS920+ là khớp chip máy gốc.
Core đời 6–9: DS920+ là lựa chọn được cộng đồng xác nhận nhiều nhất. DS918+ chỉ đáng cân nhắc khi bạn cần card HBA (DS920+ không có cờ H) và chấp nhận dừng ở DSM 7.4.
Core đời 10: ID iGPU có trong i915ids nên RR vẫn hiện cờ G ở DS920+. Nhưng addon i915le10th lại ghi "only supporting less 10th". Cài xong phải kiểm /dev/dri, không có thì chuyển sang SA6400.
N5095/N5105/N6005, Core đời 11: RR hiện cờ G ở DS920+ vì ID có trong i915ids, nhưng chưa tìm thấy báo cáo nào từ cộng đồng xác nhận transcode chạy được. Cứ thử DS920+ trước, không có /dev/dri thì chuyển sang SA6400.
N100/N150, Core 12–14: đã có báo cáo SA6400 transcode được với Jellyfin/Emby chạy trong Docker (issue RR #388, #4391).
Ảnh: Justin Ruckman (flickr) CC BY
Quy tắc nhanh cho người không muốn đọc bảng
Intel đời 9 trở xuống, Celeron/Pentium dòng J → DS920+. DS425+ và DS925+ mới hơn nhưng không hợp với nhóm này: RR chỉ gắn cờ G cho các model 2025 khi iGPU là Intel đời mới, nên chip cũ chọn vào sẽ mất transcode. Các model này cũng còn ít người kiểm. Ngoại lệ là J3455/N3350: chọn DS918+ vì trùng chip.
Intel đời 12 trở lên, N100/N150/N200/N305 → SA6400.
Ryzen, Xeon không iGPU → DS3622xs+ nếu không cần NVMe, SA6400 nếu cần. DS3622xs+ không phải model mới, nhưng được chọn vì có 24 luồng, hỗ trợ HBA và cấu hình ít rắc rối. Máy đã không có iGPU dùng được thì mấy thứ "mới" kia cũng chẳng mang lại gì.
Intel đời 10–11, N5095/N5105/N6005 → test trước khi chốt.
CPU không có MOVBE (Core đời 2–3, AMD Phenom/Turion như HP N54L) → DS3622xs+, dừng ở DSM 7.2.x. Chọn bản DSM mới hơn thì RR sẽ hỏi lại với thông báo "The current version … is not supported on this CPU".
Để menu RR tự đọc phần cứng
Hai bảng trên để định hướng lúc mua. Đến lúc chốt model thì cách đơn giản nhất là để RR tự kiểm: nó quét PCI ID của iGPU, NVMe và HBA rồi gắn cờ ngay cạnh từng model. Mọi thao tác nằm trên menu loader và DSM, không cần SSH.
Ghi file ảnh RR 26.9.0 ra USB, cắm vào máy, boot từ USB.
Màn hình RR hiện địa chỉ IP của máy. Trên laptop cùng mạng, mở trình duyệt vào http://IP-của-máy:7681 để dùng menu web.
Vào Choose a model. Cần transcode thì chọn model có G, dùng NVMe thì cần N, có card HBA thì cần H.
Không thấy model định chọn nghĩa là CPU thiếu flag. Đừng vào "Disable flags restriction" để ép nó hiện ra. RR ẩn model đó là có lý do.
Choose a version: RR liệt kê các bản PAT 7.3.2-86009, 7.4.0-90075 và 7.4.1-90080. Muốn ổn định thì chọn 7.3.2, vì nhánh này vẫn nhận bản vá (mới nhất là 7.3.2-86009 Update 5, ngày 12/10/2026). RR hỗ trợ DSM 7.4 từ bản 26.6.1, nhưng ở 26.6.1 và 26.7.0 vẫn kèm cảnh báo rằng toolkit chính thức chưa ra và driver có thể chưa tương thích. Chọn 7.4.1 cũng được, miễn build xong mạng và ổ vẫn nhận đủ.
Addons menu: bật cpuinfo để kiểm tra sau khi cài, và blockupdate để DSM không tự nâng cấp.
Chọn Build the loader, rồi Boot the loader. Sau đó cài DSM qua trình duyệt như với máy Synology bình thường.
Kiểm tra lại sau khi cài DSM
Addon cpuinfo hiển thị CPU, GPU và nhiệt độ trong Control Panel. Info Center báo số lõi ít hơn thực tế là do mức trần luồng của model, không phải lỗi.
Thứ cần kiểm kỹ nhất là /dev/dri: có nó nghĩa là driver iGPU đã chạy. Cách kiểm không cần SSH:
Vào Control Panel → Task Scheduler → Create → Scheduled Task → User-defined script.
Tab General: đặt tên cho task, User chọn root, bỏ tick Enabled để task không chạy định kỳ.
Tab Task Settings, ô Run command, dán lệnh: ls -l /dev/dri > /volume1/public/dri.txt (đổi public thành tên shared folder bạn đang có).
Bấm OK, chọn task vừa tạo, bấm Run.
Mở File Station, xem file dri.txt. Có dòng renderD128 là iGPU đã sẵn sàng. File trống nghĩa là model không hợp với iGPU của bạn, quay lại Bảng 2.
Kiểm xong thì xóa task.
Checklist kiểm tra mini PC cũ trước khi trả tiền
Tra mã CPU để biết đời chip, rồi kiểm MOVBE bằng lệnh bên dưới.
Boot RR từ USB ngay tại chỗ người bán, vào Choose a model và xem cờ G/N/H của model định chọn. Người bán có thể nhìn bạn hơi lạ, kệ họ. Đây là bài test đáng giá nhất: mất khoảng năm phút và không cần cài DSM.
Không boot được RR thì boot Ubuntu live rồi chạy:
lspci -nn
grep -o -m1 movbe /proc/cpuinfo
ls /dev/dri
Lệnh thứ hai in ra chữ movbe nghĩa là CPU có MOVBE. lspci -nn cho ID dạng 8086:xxxx của iGPU, card mạng và controller SATA. Đem ID card mạng tra trên trang module của RR (rrorg.github.io/rr/modules.html) để xem có driver không. Ubuntu thấy /dev/dri chỉ chứng tỏ iGPU đang bật trong BIOS. DSM có driver hay không thì vẫn phải nhìn cờ G trong RR.
BIOS: máy không được khóa mật khẩu BIOS. Máy văn phòng thanh lý hay dính chuyện này: IT cũ đặt mật khẩu rồi nghỉ việc, mang mật khẩu theo luôn. Phải chỉnh được SATA sang AHCI, tắt được Secure Boot, iGPU đang bật, và có tùy chọn tự bật lại máy khi có điện.
Đếm khe: bao nhiêu cổng SATA, bao nhiêu khe M.2 và mỗi khe chạy PCIe x1, x2 hay x4, có mấy khe RAM. Định cắm HDD 3.5" thì xem adapter nguồn có đủ công suất không.
Ổ và RAM đi kèm: kiểm SMART, chạy memtest. Cho máy chạy tải nặng một lúc để nghe tiếng quạt và xem nhiệt độ.
Ảnh: tawalker (flickr) CC BY
Lỗi thường gặp
Chọn DS918+/DS920+ cho máy N100 hoặc Core 12+
Máy sẽ không có /dev/dri, Jellyfin phải transcode bằng CPU và CPU chạy 100%. Kernel 4.4 không có driver cho iGPU đời mới, nên vặn cấu hình kiểu gì cũng vô ích. Cách sửa duy nhất là build lại với SA6400. Đây là một lần migrate, nên backup trước.
Không thấy DS918+ trong danh sách
CPU thiếu MOVBE nên RR ẩn model này. Chọn DS3622xs+. Đừng bật "Disable flags restriction": ép một model mà CPU không đáp ứng chỉ rước thêm rủi ro.
Không thấy ổ hoặc thiếu ổ
Thường do BIOS đang để chế độ RAID/Intel RST. Chuyển sang AHCI rồi build lại loader.
Ổ hiện sai khe hoặc nhảy số khi dùng card ASM1166
ASM1166 có 6 cổng thật nhưng báo với hệ thống là 32 cổng. Một bản vá kernel năm 2024 đã sửa lỗi này nhưng sau đó bị revert. Đằng nào thì kernel của DSM (4.4.302, 5.10.55) cũng cũ hơn bản vá đó. Cách xử lý:
Model non-DT: chỉnh SataPortMap/DiskIdxMap trong Cmdline menu.
Model DT: các tham số trên ghi rõ "Not apply to DT models", nên phải dùng Custom DTS. Riêng maxdisks= áp dụng được cho mọi model.
Chưa mua card thì chọn JMB585 (5 cổng). Tránh card dùng port multiplier như JMB575.
Dán nhãn ổ theo serial trước khi lắp, để khe có nhảy số thì vẫn biết ổ nào là ổ nào.
Build xong không có mạng (Intel i226, Realtek RTL8125)
RR tự biên dịch các module mạng: igc cho i225/i226, r8125/r8169 cho Realtek, e1000e cho Intel I219. Driver được cập nhật đều, ví dụ bản 26.7.1 đã cập nhật r8125, r8126 và r8152 (USB LAN Realtek). Vào Update menu để lên RR mới nhất rồi build lại, sau đó vào Modules menu xem module đã được chọn chưa. Trong lúc chờ, cắm tạm một USB LAN.
Info Center hiện ít lõi hơn CPU thật
Ví dụ i7-8700 có 12 luồng, nhưng chạy DS920+ thì DSM chỉ dùng tới mức trần của model. Hành vi bình thường. Cần nhiều luồng hơn thì chọn DS3622xs+ hoặc SA6400.
Có /dev/dri mà Jellyfin vẫn lỗi QSV
Trên SA6400, iGPU chỉ phục vụ app chạy trong Docker. Gói ffmpeg của Synology không dùng được iGPU (issue #4391), còn Video Station đã bị gỡ từ DSM 7.2.2 (issue #1157). Dùng image Jellyfin chính thức và thử VA-API thay cho QSV (issue #388).
Album People trong Synology Photos trống
Bật nhận diện khuôn mặt trong phần cài đặt của Photos, rồi chờ index lại. Theo danh sách KB của Synology, DS918+, DS920+ và DS3622xs+ có hỗ trợ tính năng này. Theo NASCompares (07/2023), SA6400 nhận diện được cả khuôn mặt lẫn vật thể. DS923+ thì mình chưa xác minh được. Nhận diện vật thể cần Synology Photos từ 1.5.0 và DSM từ 7.2 trở lên. Trên Xpenology, tính năng này còn phụ thuộc phần cứng và cấu hình loader, và có người báo People vẫn trống sau khi bật. Test trước khi đổ cả kho ảnh vào. Nếu Photos không xóa được ảnh, addon apppatch sửa được lỗi đó.
Virtual Machine Manager không chạy (chưa kiểm chứng)
Có một báo cáo trên OzBargain (04/2025) nói VMM có thể không chạy trên SA6400 dùng CPU Intel. Mới là báo cáo đơn lẻ, nhưng nếu định chạy máy ảo trong DSM thì thử trước khi chuyển dữ liệu vào.
Tùy chọn nâng cao (không bắt buộc)
Kiểm transcode thật bằng Jellyfin
Có renderD128 mới chỉ cho biết driver đã lên. Muốn chắc iGPU thật sự xử lý được video thì chạy thử Jellyfin trong Container Manager, chỉ cần dán compose vào giao diện:
Cài Container Manager từ Package Center.
Mở File Station, trong shared folder docker tạo thư mục jellyfin/config và jellyfin/cache.
Vào Container Manager → Project → Create. Đặt tên jellyfin, Path chọn /docker/jellyfin, Source chọn Create docker-compose.yml, rồi dán đoạn dưới đây.
Tag latest hiện là Jellyfin 12.4. Muốn cố định phiên bản thì tra tag cụ thể trên Docker Hub. Đổi /volume1/video thành thư mục chứa phim của bạn.
Mở http://IP-NAS:8096, làm theo wizard và thêm thư viện /media. Trong Dashboard, phần cài đặt transcoding, chọn VA-API với thiết bị /dev/dri/renderD128. Phát một phim, hạ chất lượng xuống để ép transcode, rồi mở Playback Info. Thấy transcode bằng phần cứng là iGPU đã vào việc.
NVMe làm volume hoặc chứa DSM
nvmecache: bật NVMe cho DS918+ và một số model non-DT.
nvmevolume: tạo storage pool/volume trên NVMe.
nvmesystem: cài DSM lên NVMe. Chỉ dùng được với model DT, và lúc cài không được cắm ổ SATA nào.
Proxmox, iGPU passthrough, SR-IOV
Làm được, nhưng đủ rắc rối để viết thành một bài riêng. Máy chỉ dùng làm NAS thì cài RR thẳng trên máy thật là gọn nhất.
Ổ cứng cho bản build tự ráp
Chọn đúng model mà ổ không hợp thì NAS vẫn trục trặc. Bản build tự làm nên dùng ổ NAS-grade CMR để rebuild RAID ổn định. Ổ desktop SMR đời cũ lắp vào NAS có thể làm rebuild kéo dài. Cùng một dòng sản phẩm có thể có model CMR và model SMR khác nhau, nên tra mã model trên datasheet trước khi mua.
WD Red là lựa chọn chuẩn cho NAS gia đình và SOHO tải nhẹ. Cần nhiều khay hơn hoặc tải nặng hơn thì nâng lên các dòng sau tùy nhu cầu:
Dòng ổ
Số khay
Tải/năm
Bảo hành
Ghi chú
WD Red Plus
1–8
180 TB
3 năm
CMR, 5400–7200 RPM
Seagate IronWolf
1–8
180 TB
3 năm
Có gói Rescue
Toshiba N300
Tối đa 8
180 TB
3 năm
7200 RPM
WD Red Pro
Tối đa 24
550 TB
5 năm
7200 RPM
Seagate IronWolf Pro
Tối đa 24
300–550 TB
5 năm
Tùy mã
Toshiba N300 Pro
Tối đa 24
300–550 TB
5 năm
Tùy mã
Thông số tham khảo theo datasheet của hãng. Đối chiếu đúng mã ổ trước khi mua.
Máy 1–2 ổ, NAS media gia đình: WD Red, WD Red Plus, Seagate IronWolf hoặc Toshiba N300. Chọn theo dung lượng và giá.
Build 4–8 khay chạy SHR/RAID, vài người dùng chung: WD Red Plus, IronWolf hoặc N300. IronWolf có thêm gói phục hồi dữ liệu Rescue, N300 có giá tốt so với hiệu năng 7200 RPM.
Máy Xeon kèm HBA, trên 8 khay hoặc ghi liên tục: WD Red Pro, IronWolf Pro hoặc N300 Pro, đều bảo hành 5 năm.
Trên Xpenology, addon hdddb/diskcompat giúp DSM thôi báo ổ "chưa xác minh". Từ RR 26.6.1, diskcompat được bật mặc định khi cài mới.
Bảo mật và bảo trì
Xpenology không phải sản phẩm của Synology và không có hỗ trợ chính thức. Đừng dùng SN/MAC của máy Synology thật để mở các dịch vụ của hãng.
Các cổng quản lý của RR (7681, 7304, 7080) chỉ dùng trong LAN. Không port-forward chúng ra internet.
Bật addon blockupdate để tắt cập nhật DSM tự động. Chỉ nâng DSM khi bản RR mới đã hỗ trợ bản DSM đó.
Backup theo nguyên tắc 3-2-1 trước khi đổi model, đổi loader hay nâng DSM.
Máy cũ mới mua: reset BIOS, và chưa dùng ổ đi kèm để chứa dữ liệu chính khi chưa kiểm SMART.
Build mới trên máy Intel đời 6–9 thì chọn DS920+ ngay từ đầu, vì DS918+ dừng ở DSM 7.4.
Chọn đúng model một lần là quên nó luôn được. Chọn sai thì tối nào bật phim, tiếng quạt cũng nhắc bạn.
Bình luận
Chưa có bình luận nào. Có câu hỏi về bài này thì cứ hỏi, đội ngũ Nashub sẽ trả lời.